26 tháng 12, 2017

Các thuật ngữ thường dùng trong Trade Coin

Để giúp bạn dễ dàng tìm hiểu lĩnh vực blockchain, tiền điện tử để đọc sách, đọc các tài liệu và tham gia những diễn đàn chuyên môn trong lĩnh vực này, tôi xin giới thiệu một số thuật ngữ (từ khoá) thông dụng. Có thể danh sách những thuật ngữ mà tôi cung cấp chưa đầy đủ hay còn thiếu sót thì rất mong các bạn cùng đóng góp để giúp cộng đồng có được những kiến thức cơ bản để tìm hiểu lĩnh vực mới mẻ đầy hấp dẫn này.

Address: Địa chỉ để nhận tiền mỗi khi muốn chuyển tiền. Trong lĩnh vực tiền kỹ thuật số địa chỉ không phải là public key nhưng nó là public key được mã hoá dưới dạng base64 và có mã kiểm tra để tránh trường hợp gõ nhầm một vài ký tự dẫn đến sai địa chỉ.
Algorithm: Thuật toán, trong lĩnh vực tiền điện tử thì thuật toán thường nói đến thuật toán băm mà loại tiền kỹ thuật số đó sử dụng.
Altcoin: Thuật ngữ này có nghĩa nói đến các loại coin khác. Ban đầu chỉ có Bitcoin cho đến khi có nhiều coin khác thì người ta nghĩ ra thuật ngữ này để chỉ các loại coin không phải Bitcoin. Altcoin hay cách viết đầy đủ là Alternate Coins.
AML: Đây là từ viết tắt của Anti Money Laundering có nghĩa là một quy định về chống rửa tiền.
API: Đây là từ viết tắt của Application Programing Interface có nghĩa là giao diện lập trình ứng dụng. Thường một phần mềm muốn mở các kênh để giao tiếp với các phần mềm khác thì người ta tạo ra các giao diện lập trình ứng dụng này để các phần mềm khác dễ dàng tương tác được với phần mềm đó. Đối với các hệ điều hành thì API được dùng để giúp cho các phần mềm chạy trên hệ điều hành đó sử dụng các chức năng được xây dựng sẵn trong hệ điều hành chỉ bằng việc sử dụng các quy tắc giao tiếp quy định trong API. Sau này các website cũng tạo ra các giao diện lập trình ứng dụng để các lập trình viên của các bên thứ ba dễ dàng viết các phần mềm kết nối và tương tác với trang web của họ. Facebook nhờ phát triển bộ API mạnh mẽ đã giúp các lập trình game và các nhà phát triển ứng dụng tạo ra rất nhiều ứng dụng trên nền Facebook, nhờ đó Facebook chiến thắng Myspace để trở thành mạng xã hội lớn nhất hành tinh.
ASIC: Là viết tắt của Application Specific Integrated Circuit có nghĩa là mạch tích hợp cho một ứng dụng cụ thể. Thường trong lĩnh vực tiền kỹ thuật số có sử dụng các thuật toán băm nhất định cho việc tạo blockchain và các máy đào thường được thiết kế cho những thuật toán nhất định giúp cho tăng tốc độ đào coin. Ví dụ máy đào Bitcoin có ASIC với thuật toán SHA256 còn máy đào ASIC đào Dash thì được tạo ra cho thuật toán X11 của Dash.
Balance: Số dư của ví tiền kỹ thuật số, hay còn được biết là số tiền còn lại trong ví mà bạn có thể tiêu được.
Block: Trong thế giới tiền kỹ thuật số thì mỗi block là một nhóm các giao dịch và cơ sở dữ liệu của tiền kỹ thuật số chính là một chuỗi các khối của các giao dịch này. Các loại tiền kỹ thuật số khác nhau sử dụng các khối có độ lớn khác nhau. Ví dụ hiện tại Bitcoin sử dụng một khối có độ lớn là 1 MB, tuy nhiên điều này có thể thay đổi trong tương lai. Người ta nói tất cả các giao dịch được lưu vào một cuốn sổ cái thì mỗi block ví như một một trang trong cuốn sổ đó.
Blockchain: Có nghĩa là chuỗi các khối chứa các giao dịch được kết nối với nhau theo dạng móc xích có liên quan chặt chẽ với nhau. Đây là từ khoá chỉ cho việc ứng dụng kỹ thuật móc xích các khối thành chuỗi kết nối với nhau và sử dụng công nghệ mạng ngang hàng để lưu đồng bộ dữ liệu trên tất cả các nút mạng. Vì công nghệ này sử dụng các nút mạng được kết nối ngang hàng với nhau nên có thể thời gian ở các nút mạng không giống nhau nên việc sử dụng các khối kết nối móc xích như vậy để đảm bảo thứ tự thời gian của chúng.
Block explorer: Đây là một công cụ giúp các lập trình viên, các nhà nghiên cứu về blockchain theo dõi và lần tìm các giao dịch. Đây là công cụ giúp cho lĩnh vực tiền kỹ thuật số có được sự minh bạch.
Block reward: Đây là từ nói về phần thưởng cho thợ mỏ nào đào được một khối. Trong lĩnh vực tiền kỹ thuật số sử dụng cơ chế Proof of Work thì các máy đào phải thi nhau giải được một đoạn băm có độ khó nào đó để giành được quyền tạo một khối. Máy đào nào giải được trước sẽ có quyền tạo khối và nhận được phần thưởng cho việc tạo khối đó.
Block size: Có nghĩa là kích thước của một khối.
Block time: Có nghĩa là thời gian để thực hiện một khối. Ví dụ với Bitcoin thì có thời gian trung bình là 10 phút cho mỗi khối còn Dash lại quy định thời gian trung bình cho mỗi khối là khoảng 2 phút rưỡi. Nếu các máy đào giải được đoạn băm với độ khó nhất định sớm hơn thời gian trung bình thì độ khó được tăng lên, còn nếu các máy đào làm chậm hơn so với thời gian trung bình thì độ khó lại giảm đi.
Bitcoin: Là loại tiền kỹ thuật số hoàn chỉnh đầu tiên sử dụng kỹ thuật blockchain.
BTC: Đây là từ viết tắt của Bitcoin hay đơn vị tính của tiền điện tử Bitcoin.
Budget: Ngân sách. Đối với tiền kỹ thuật số như Dash có sử dụng một cơ chế để cấp vốn cho các dự án của cộng đồng nhằm cải tiến công nghệ hoặc giúp cho loại tiền đó được trở nên phổ biến thì ngân sách ở đây có nghĩa là khoản vốn được sinh ra bởi hệ thống dành cho các dự án của cộng đồng.

Circulating Supply: Đây là chỉ số về các loại tiền kỹ thuật số, nó cho biết số tổng lượng coin đang được lưu hành trên thị trường của loại tiền đó.
Confirm: Hay còn gọi là xác nhận chỉ việc các máy đào đã thực hiện việc xác thực một giao dịch. Thông thường trong thế giới tiền kỹ thuật số thì cứ một khoảng thời gian nhất định thì máy đào sẽ thực hiện xác nhận các giao dịch trong một khối. Một giao dịch càng được nhiều việc xác nhận thì giao dịch đó càng an toàn. Trong giao dịch thông thường thì các ví thường yêu cầu có khoảng 6 xác nhận để nó được coi là đảm bảo an toàn.
Cryptocurrency: Có nghĩa là tiền mã hoá, hay tiền kỹ thuật số, hay tiền điện tử. 
Cryptography: Có nghĩa là ngành mật mã học, hoặc phương pháp mã hoá hay lĩnh vực nghiên cứu về việc biến đổi nội dung một thông điệp thành một định dạng mà chỉ những người có chìa khoá mới có thể đọc được nội dung của nó.
DarkSend: Đây là tên gọi cũ của công nghệ PrivateSend của Dash cho phép người dùng Dash có thể gửi tiền cho nhau một cách ẩn danh và đảm bảo sự riêng tư cao.
Dash: Là một loại tiền kỹ thuật số, là một công nghệ tiền điện tử phi tập trung. Dash cũng có nghĩa là tiền mặt điện tử, tiếng Anh gọi là Digital Cash. Dash cũng là tên của đơn vị tiền kỹ thuật số có tên là Dash, 1 Dash cũng như một Đồng, một Đô la, một Bitcoin…
Dash Drive: Hay còn gọi là DashDrive là công nghệ đặc biệt của Dash (phát hành với bản Evolution của Dash) cho phép lưu trữ thông tin về các ví của người sử dụng trên ổ cứng của các Masternode. Điều này cho phép người dùng có thể truy cập ví của mình ở bất cứ đâu từ ví trên máy tính, trên điện thoại, thậm chí trên web thông qua giao diện lập trình ứng dụng phi tập trung của Dash.
Decentralize: Có nghĩa là phi tập trung.
Decentralized Oracle: Đây là một khái niệm mới được đưa ra bởi Evan Duffield, người sáng lập ra Dash. Công nghệ này cho phép các masternode truy vấn đến các nguồn dữ liệu khác nhau và hệ thống Dash sẽ tự động biểu quyết để chọn và đánh giá tính chính xác của thông tin dựa trên kết quả biểu quyết tự động giữa một nhóm tối thiểu n nút ngẫu nhiên của các masternode. Đây là yếu tố then chốt đảm bảo cho một hợp đồng thông minh (smart contract) thực sự đảm bảo được tính chất phi tập trung.
Decrypt: Có nghĩa là giải mã, là biến đổi những thông điệp đã được mã hoá thành định dạng mà có thể đọc được. Decrypt là ngược lại của Encrypt (mã hoá).
Decryption: Có nghĩa là sự giải mã.
Deflation: Có nghĩa là giảm phát và ngược lại với ý nghĩa của lạm phát. Giảm phát có nghĩa là khi lượng cung tiền ít hơn nhu cầu lưu thông của loại tiền đó khiến giá của nó tăng lên.
Duff: Đơn vị nhỏ nhất của Dash. Một Duff bằng 0.00000001 Dash. Duff cũng là mấy chữ cái đầu của Duffield (Họ của Evan Duffield người sáng lập ra Dash).
Dump: Có nghĩa là xả, hay bán tống bán tháo ra ngoài thị trường để rút tiền về. Đây là một khái niệm với những người buôn bán tiền điện tử trên các sàn giao dịch. Một số người giao dich trên sàn tiền điện tử khi thấy loại coin mình nắm giữ có tin xấu thì anh ta tìm cách bán tống bán tháo số tiền điện tử của mình để rút ra càng sớm càng tốt.
Ethereum: Đây là tên một loại tiền điện tử, một công nghệ blockchain đầu tiên có khả năng cho phép nhúng các đoạn chương trình có khả năng của một ngôn ngữ lập trình hoàn chỉnh vào blockchain.
ETH: Là ký hiệu viết tắt của Ethereum hay là một đơn vị của loại tiền điện tử Ethereum.
Electrum: Là tên một loại ví của tiền điện tử, loại ví này không tải toàn bộ blockchain về máy trạm của người sử dụng mà thay vào đó nó truy cập đến blockchain nằm trên máy chủ. Electrum không đảm bảo tính phi tập trung, tuy nhiên nó cho phép người dùng có được sự tiện lợi và nhanh chóng do không phải tải toàn bộ block chain về máy trạm.
Encrypt: Có nghĩa là mã hoá, tức là biến một thông điệp thông thường thành một dạng bí mật mà bình thường không thể nào đọc được. Ngược lại với Encrypt là Decrypt (giải mã).
Encryption: Có nghĩa là sự mã hoá.
Exchange: Là sàn giao dịch (tiền điện tử, hoặc chứng khoán)

FUD: Là viết tắt của Fear – Uncertainty – Doubt có nghĩa là Sợ hãi – Không chắc chắn – Nghi ngờ. Điều này ám chỉ việc lo lắng, sợ hãi, và cảm thấy không chắc chắn khi quyết định đầu tư, mua bán, hoặc giao dịch trên các sàn tiền kỹ thuật số. FUDer có nghĩa là người có những đặc điểm như sợ hãi, không chắc chắn và nghi ngờ. Để không bị coi là FUDer thì chúng ta nên dành thời gian tìm hiểu thật kỹ lưỡng kể cả những yếu tố về công nghệ cũng như về kinh tế học để khi quyết định thì chúng ta có một sự chắc chắn và tự tin.
Full node: Tiền kỹ thuật số sử dụng công nghệ mạng ngang hàng Peer To Peer (P2P) và mạng ngang hàng coi mỗi một máy kết nối vào mạng lưới như là một nút mạng, mỗi nút mạng có thể bật hoặc tắt và các máy khi kết nối mạng sẽ phải đồng bộ hoặc truy cập dữ liệu từ các nút mạng có đầy đủ thông tin. Full node là một nút mạng mà có chứa đầy đủ toàn bộ dữ liệu của các giao dịch. Một mạng lưới có nhiều full node đảm bảo dữ liệu được nhân bản rộng rãi và điều đó tránh được nguy cơ bị đánh tráo dữ liệu.
Funding: Đây là một thuật ngữ của giới đầu tư có nghĩa là sự cấp vốn. Có thể đó là sự cấp vốn cho các dự án hoặc sự cấp vốn cho các công ty khởi nghiệp. Lĩnh vực tiền kỹ thuật số mới sử dụng khái niệm này bởi Dash vì bản thân hệ sinh thái của Dash có khả năng cấp vốn cho các dự án của cộng đồng giúp phát triển thêm các tính năng mới cho hệ thống hoặc các dự án làm gia tăng giá trị cho hệ sinh thái này.
Github: Vì lĩnh vực tiền kỹ thuật số thì cần đảm bảo tính minh bạch và mã nguồn mở nên các phần mềm của lĩnh vực này thường sử dụng một công cụ quản lý mã nguồn là Github (có thể truy cập tại www.github.com). Đây là một công cụ quản lý và chia sẻ mã nguồn phần mềm có thể được sử dụng miễn phí nên được rất nhiều những người lập trình ứng dụng blockchain sử dụng vì tính minh bạch, công khai và khả năng hợp tác giữa các lập trình viên rất cao của nó.
Governance: Đây cũng là một thuật ngữ mới được sử dụng trong thời gian gần đây do lĩnh vực tiền điện tử do rất nhiều người tham gia hệ sinh thái của nó nên rất khó khăn cho việc đồng thuận để chọn lựa những hướng đi nhất định cho cộng đồng. Governance là cách thức cho phép cộng đồng có thể đưa ra quyết định chung mà không tạo ra mâu thuẫn. Đây cũng có nghĩa là quản trị, hay cai trị. Một hệ thống tiền điện tử thì không chỉ cần có một hệ thống quản trị mà còn cần hệ thống quản trị phi tập trung (Decentralized Governance), tức là không cần thiết phải tin tưởng vào một người hay một tổ chức nào mà cộng đồng có thể đưa ra quyết định bằng cách bỏ phiếu. Công nghệ mã hoá cho phép cộng đồng có thể bỏ phiếu và kiểm soát được việc bỏ phiếu đó sao cho công bằng và minh bạch.
Hard wallet: Đây có nghĩa là ví cho tiền kỹ thuật số dưới dạng một phần cứng (hay ví cứng) riêng biệt chứ không chỉ là một phần mềm nằm trên máy tính hoặc điện thoại. Việc sử dụng ví cứng có được đặc tính bảo mật tốt hơn ví mềm vì nếu hacker có xâm nhập được vào máy tính của nạn nhân muốn chuyển tiền đi thì ví mềm chỉ bị giới hạn bởi mật khẩu và hacker có thể cài vào máy của nạn nhân phần mềm theo dõi bàn phím để đọc được mật khẩu, còn ví cứng thì lại đòi hỏi mật khẩu nhập trực tiếp trên phần cứng của ví mà phần cứng đó không thể cài hoặc rất khó có thể cài mã theo dõi.
Hash: Còn gọi là phép băm. Trong lĩnh vực tin học thì băm có nghĩa là một loại phương thức trích chọn đặc trưng sao cho với một đoạn văn bản nào đó thì chỉ có thể chọn ra một đoạn mã đặc trưng mà không thể nào tìm được đoạn mã giống như vậy cho một đoạn văn bản khác và ngược lại là không thể cùng một đoạn văn bản mà có thể sinh ra hai đoạn mã băm khác nhau. Ngoài ra phép băm có tính chất một chiều, tức là khi cho một thông điệp qua hàm băm ta có thể tính ra mã băm nhưng không thể làm ngược lại được. Phép băm được sử dụng nhiều cho lĩnh vực chữ ký điện tử và quản lý mật khẩu. Phép băm này được sử dụng chính trong lĩnh vực blockchain để đảm tính xác thực của thông tin tránh giả mạo vì các thuật toán băm thường được chứng minh tính tương ứng 1-1 giữa thông điệp và mã băm. Có rất nhiều thuật toán băm khác nhau trong đó thông dụng như SHA256, SHA3, MD5,…
Hash rate: Là tốc độ tính toán để thực hiện phép băm. Hash rate càng cao là tốc độ xử lý phép băm càng nhanh. Hash rate thường để so sánh khả năng xử lý của các máy đào cho các loại tiền kỹ thuật số. Với các thuật toán khác nhau thì tốc độ xử lý băm cũng khác nhau cho nên đôi khi một máy có khả năng tính toán mạnh nhưng xử lý thuật toán băm này lại chậm hơn một máy có khả năng kém hơn nhưng thực hiện thuật toán băm khác.
Hype: Có nghĩa là sự thổi phồng hoặc cường điệu. Trong lĩnh vực giao dịch mua bán tiền kỹ thuật số thì một loại tiền bị thổi giá lên cao khác thường được gọi là bị Hype.
ICO: Là từ viết tắt của Initial Coin Offering, đây là dạng gọi vốn ban đầu, tức là nhóm phát triển có thể bán ra một lượng coin ban đầu cho công chúng giống như việc phát hành cổ phiếu lần đầu của các công ty ra thị trường đại chúng (IPO – Initial Public Offering).
Inflation: Có nghĩa là sự lạm phát. Sự lạm phát tăng khi lượng tiền cung lớn hơn lượng hàng hoá trên thị trường khiến cho giá của hàng hoá trở nên đắt đỏ hơn. Inflation ngược nghĩa với Deflation.
InstantSend: Là công nghệ của Dash cho phép một giao dịch chuyển tiền diễn ra rất nhanh chóng khoảng trên dưới 1 giây trong khi thời gian xử lý một khối (block) của Dash là trung bình 2 phút rưỡi.
InstantX: Là tên cũ của InstantSend.
Investor: Có nghĩa là nhà đầu tư.
Investment: Có nghĩa là sự đầu tư.
IoT: Là viết tắt của từ Internet of Things có nghĩa là các thiết bị thông minh như máy giặt thông minh, camera thông minh, tủ lạnh thông minh… những thiết bị thông minh này có thể kết nối vào mạng Internet như các máy tính. Nó giúp cho việc quản lý và theo dõi từ xa, và giúp các thiết bị này có thể hoạt động tự động và độc lập.
Keepkey: Đây là thương hiệu của một loại ví cứng.
Key: Có nghĩa là chìa khoá. Trong lĩnh vực tiền kỹ thuật số thì người ta sử dụng công nghệ mã hoá công khai và chữ ký điện tử. Mã hoá công khai có nghĩa sử dụng 2 khoá riêng biệt một dùng để mã hoá dữ liệu còn một dùng để mở khoá. Tiền điện tử sử dụng một khoá công khai có biến đổi đi để dùng làm địa chỉ nhận tiền, còn khoá bí mật dùng để gửi chuyển tiền đi. Trong lĩnh vực tiền điện tử thì Key thường ám chỉ khoá bí mật.
KYC: Đây là viết tắt của từ Know Your Customer có nghĩa là một quy định buộc các tổ chức tài chính phải biết về khách hàng của họ. Quy định này là cách để các chính phủ chống việc rửa tiền hoặc các loại tội phạm trong các giao dịch chuyển tiền
Ledger: Sổ cái trong kế toán. Trong lĩnh vực tiền kỹ thuật số thì mọi giao dịch của tiền kỹ thuật số được lưu vào trong một cơ sở dữ liệu giống như một sổ cái của các kế toán.
Mainnet: Là mạng chính thức. Trong lĩnh vực tiền kỹ thuật số người ta dùng 2 mạng lưới khác nhau một là mạng chính thức và một là mạng thử nghiệm. Hai mạng lưới này hoạt động giống nhau và cùng sử dụng chung một phần mềm chỉ khác ở chỗ là có tuỳ chọn khi chạy phần mềm khác nhau. Mạng chính thức kết nối các phần mềm ví với nhau và dùng cho các giao dịch thông thường, còn mạng thử nghiệm dùng để các lập trình viên thử nghiệm để viết phần mềm, kiểm tra lỗi và thử nghiệm các tính năng của các phần mềm.
Marketcap: Tổng giá trị thị trường của một loại coin. Giá trị này được tính bằng giá khớp lệnh gần nhất nhân với tổng số coin lưu hành trên thị trường của một loại coin nào đó. Giá trị này có thể biến động tuỳ theo nhu cầu của thị trường giữa người mua và người bán ở từng thời điểm.
Masternode: Là một nút (node) mạng trong mạng lưới ngang hàng trong mạng lưới của Dash, một masternode cần có thêm một chút điều kiện hơn so với các nút mạng thông thường, để chạy được một masternode thì chủ của nó phải đặt cọc một lượng 1000 Dash và có địa chỉ IP tĩnh chạy trong trung tâm dữ liệu và máy tính đó cần có một cấu hình đủ mạnh. Masternode của Dash được sử dụng cho các dịch vụ giá trị gia tăng trên mạng lưới của Dash như PrivateSend, InstantSend, Decentralized Governance…
Miner: Máy đào coin hoặc người vận hành các máy đào coin để kiếm lợi nhuận bằng việc cung cấp năng lực tính toán để thực hiện việc xác thực các giao dịch cho mạng lưới tiền kỹ thuật số.
Mining: Đào coin
MNO: Là viết tắt của Masternode Owner có nghĩa là chủ của Masternode.
Multisig: Có nghĩa là một ví sử dụng kỹ thuật với nhiều chữ ký, tức là một ví mà cần phải có nhiều chìa khoá cùng sử dụng thì mới có thể chuyển được tiền. Ví multisig dùng cho một tổ chức hay một công ty. Giả sử ví đó có 3 người có chìa khoá dùng để chuyển tiền và quy định ít nhất có 2 người cùng ký thì mới chuyển được. Tương tự vậy có thể có quy định ví cần 5 khoá và tối thiểu 3 khoá mới chuyển tiền đi được… Dash do kế thừa của Bitcoin nên có khả năng này, nhiều loại tiền điện tử không kế thừa từ Bitcoin không có khả năng này.
Node: Là một nút mạng tức là một phần mềm chạy trên một máy tính tham gia vào mạng lưới với các máy tính khác cũng chạy cùng phần mềm đó trên mạng ngang hàng. Trên mạng ngang hàng thì mỗi một node (nút) được coi ngang hàng với nhau.
Open source: Mã nguồn mở. Mã nguồn mở thường được nói nhiều trong lĩnh vực phần mềm nơi mà những lập trình viên cung cấp mã nguồn phần mềm của họ viết công khai lên mạng để mọi người đều có thể xem và sử dụng.
Paper wallet: Là ví tiền điện tử được in ra giấy cho mục đích lưu trữ ngoài máy tính, điều này giúp cho nó tránh bị hacker đánh cắp.
Peers: Là nói đến các nút mạng ngang hàng trong mạng mang hàng (Peer to Peer).
Poloniex: Là tên của một sàn giao dịch nhiều loại tiền kỹ thuật số khác nhau, nhất là các loại Altcoin.
Pool: Thuật ngữ này được sử dụng với những người đào mỏ, tức là cung cấp các thiết bị của mình cho việc xác thực các giao dịch của một loại tiền điện tử và đổi lại người ta được trả công. Khi việc đào mỏ được nhiều người tham gia thì việc cạnh tranh trở nên khó khăn và rất khó để dành chiến thắng. Nếu không hợp sức và chia đều rủi ro thì có người cả năm đào mà chẳng trúng block nào. Bởi vậy nhiều thợ mỏ có thể tập hợp năng lực tính toán của mình để cùng nhau dò tìm để được nhận giải thưởng. Nếu một trong các thợ mỏ tìm được block thì sẽ chia đều cho các thành viên của nhóm tuỳ theo năng lực tính toán của từng người. Như vậy khả năng trúng block cho toàn nhóm là cao nhưng lại chia đều nên thợ mỏ có được phần thưởng tuy nhỏ để trang trải chi phí. Pool là cách để tập hợp nhiều thợ mỏ để cùng nhau đào và chia nhau giải thưởng. Thông thường với các loại coin nhiều người biết như Bitcoin thì mỗi Pool có thể có hàng ngàn thợ mỏ/máy đào khác nhau, thậm chí nhiều hơn.
Private key: Có nghĩa là khoá riêng hay khoá bí mật. Trong lĩnh vực mã hoá thì có một lĩnh vực gọi là mã hoá bất đối xứng hay mã hoá công khai. Lĩnh vực này để mã hoá và giải mã thông tin chúng ta cần 2 chìa khoá, một dùng để khoá (mã hoá thông tin) và một để mở (giải mã thông tin). Chìa khoá dùng để mã hoá gọi là chìa khoá công khai, có thể cung cấp cho tất cả những ai mà ta muốn nhận thông tin dưới dạng mã hoá từ họ, còn chìa khoá bí mật (hay còn gọi chìa khoá riêng) dùng để giải mã thì ta giữ riêng, khi thông tin được mã hoá với khoá công khai rồi thì chỉ ai có chìa khoá bí mật mới giải mã để đọc được thông điệp. Chìa khoá bí mật đó gọi là Private key (hay còn gọi là secret key) còn chìa khoá công khai gọi là public key.
PrivateSend: Đây là một dịch vụ chuyển tiền ẩn danh của Dash. Dash được phát triển lên từ Bitcoin nên kế thừa dịch vụ chuyển tiền với sự minh bạch và bán ẩn danh của Bitcoin. Điều đó có nghĩa là các giao dịch chuyển tiền của Bitcoin không có chứa thông tin về tên người gửi và người nhận, thay vào đó là các địa chỉ là chuỗi ký tự khoá loằng ngoằng. Tuy nhiên, nếu biết địa chỉ của một người thì chúng ta có thể biết là địa chỉ đó có số dư thế nào và giao dịch với những địa chỉ khác ra sao. Dịch vụ PrivateSend giúp đảm bảo sự riêng tư bằng cách xáo trộn các nguồn đầu vào và đầu ra nhằm giúp đảm bảo thông tin được riêng tư và người ta không có cách nào truy tìm được nguồn gốc tiền của một người cũng như không biết anh ta có giao dịch với người nào khác nữa.
Proposal: Có nghĩa là một đề xuất. Trong hệ sinh thái của Dash, các lập trình viên, các nhóm lập trình, marketing,… có thể đề xuất một dự án giúp bổ sung giá trị cho hệ sinh thái của Dash và các chủ masternode có thể bỏ phiếu thông qua. Nếu được bỏ phiếu thông qua một đề xuất thì người chủ của đề xuất đó sẽ được cấp một lượng vốn để anh ta hay nhóm của anh ta có kinh phí thực hiện công việc. Đây là một đặc điểm ưu việt khá thú vị của Dash giúp cho hệ sinh thái này làm việc giống như một tổ chức tự động phi tập trung.
Protocol: Có nghĩa là giao thức hay cách thức chuẩn để các bên có thể giao tiếp được với nhau, thường là các máy tính có thể làm việc với nhau thông qua mạng. Thường đối với các mạng máy tính thì có giao thức mạng như TCP/IP, IPX/SPX,… còn các hệ thống tiền điện tử cũng có các giao thức như giao thức bitcoin, giao thức dash,… để các thành phần tham gia các hệ thống có cùng giao thức này có thể làm việc và giao tiếp với nhau.
Proof of Work: Dịch sang tiếng Việt có nghĩa là chứng tỏ năng lực làm việc đây là một kỹ thuật để chọn ra thợ mỏ nào xứng đáng để được trao quyền tạo block và nhận giải thưởng cho việc xác thực giao dịch. Nó cũng là cách khuyến khích người dùng đầu tư máy móc cho việc xác thực giao dịch và đảm bảo tính an ninh cho mạng lưới thanh toán. Kỹ thuật này cho phép những người có năng lực tính toán (hàm băm) nhanh hơn thì có nhiều hơn cơ hội để đào trúng và nhận giải thưởng. Nhờ việc cạnh tranh nhau để đào trúng bằng việc nâng cấp thiết bị có tốc độ nhanh hơn thì khả năng đảm bảo an ninh cho mạng lưới thanh toán càng cao hơn.
Proof of Stake: Đây là một kỹ thuật khác cũng dùng để xác thực các giao dịch nhưng thay vì phải cạnh tranh nhau về năng lực tính toán để xác thực và được quyền nhận phần thưởng thì kỹ thuật này lại ưu tiên cho những người giữ một lượng coin trong ví lớn hơn và lâu hơn. Kỹ thuật này không dùng các máy đào và không cạnh tranh về năng lực tính toán cho việc đào mỏ nên tiết kiệm chi phí cho thiết bị và năng lượng cho máy hoạt động, nhưng nó chỉ ưu tiên cho người ban đầu có nhiều coin và bật phần mềm ví cho hoạt động nhiều. Điều này không tạo được động lực cho những người biết đến muộn và việc trả thưởng dựa vào số coin trước có nên không tạo được động lực cạnh tranh cho người tham gia. Có nhiều tranh luận về sự ưu/nhược giữa Proof of Work và Proof of Stake nhưng cho đến nay thì chưa có coin nào dùng Proof of Stake giữ được thành công.
Proof of Service: Đây là một kỹ thuật được sử dụng trong Dash. Nó không phải dùng cho việc xác thực các giao dịch, tạo block mà là một kỹ thuật giúp người dùng đầu tư máy móc và đặt cọc một số coin nhất định nhằm cung cấp hạ tầng kỹ thuật cho các dịch vụ gia tăng cho hệ sinh thái của Dash. Kỹ thuật này tạo động lực cho người tham gia máy móc làm hạ tầng cho mạng bậc hai, tức là các nút mạng dạng Masternode.
Public key: Như đã giải thích trong phần Private Key, Public key là chìa khoá dùng để mã hoá thông tin. Các hệ thống tiền điện tử không sử dụng trực tiếp việc mã hoá thông tin mà sử dụng một ứng dụng của mã hoá thông tin đó là công nghệ chữ ký điện tử. Kỹ thuật này giúp đảm bảo thông tin vẫn giữ được sự minh bạch nhưng không bị giả mạo. Public key được sử dụng làm địa chỉ (không dùng trực tiếp khoá này mà dùng mã hoá nó ở dạng dễ đọc), còn khoá riêng thì dùng làm chìa khoá để chuyển tiền.
Pump: Bơm tiền ra mua một loại coin nào đó, điều này có thể làm giá của loại coin đó tăng cao nếu như có nhiều người bơm tiền ra mua nó.
Pump and Dump: Có nghĩa bơm tiền vào để mua sau đó bán ra để kiếm lời chứ không muốn giữ lâu. Một loại coin được gọi là Pump and Dump là loại coin không đáng để giữ lâu mà chỉ có thể kiếm lời trong ngắn hạn

Rig: Trong lĩnh vực đào coin thì một rig là một dàn máy đào, hoặc một dàn gồm một máy tính có một số nhất định các card đồ hoạ dùng cho việc đào coin.
Satoshi: Satoshi Nakamoto là bí danh của người phát minh ra Bitcoin, người ta thường gọi tắt là Satoshi. Ngoài ra Satoshi cũng là tên của một đơn vị nhỏ nhất của Bitcoin. Một Satoshi bằng 0.00000001 Bitcoin.
Scam: Là một mưu đồ, một hành vi không trung thực nhằm lừa dối để tư lợi.
Scaling: Là việc mở rộng hệ thống (thường là máy tính và phần mềm) để có thể đáp ứng được lượng nhu cầu truy cập tăng lên rất nhiều.
Secret key: Hay còn gọi là Private key là khoá bí mật, trong lĩnh vực tiền điện tử thì khoá bí mật dùng để gửi tiền và chứng tỏ mình là chủ sở hữu của ví tiền.
SHA: Là tên của một thuật toán băm, nó là viết tắt của Secure Hash Algorithm. Thuật toán SHA có nhiều phiên bản như SHA-1, SHA-2, SHA-3
Shapeshift: Đây là tên một dịch vụ cho phép chuyển đổi từ loại tiền kỹ thuật số này sang tiền kỹ thuật số khác. Ví dụ như có thể chuyển từ Bitcoin sang Dash. Công ty này hoạt động như một sàn giao dịch và
Signature: Chữ ký. Ở đây nói đến chữ ký điện tử. Trong lĩnh vực tiền kỹ thuật số thì công nghệ chữ ký điện tử được áp dụng nhiều. Việc tiêu tiền thực chất là việc ký một thông điệp chuyển tiền.
Solo mining: Đây là việc đào coin một mình, thường trong giai đoạn ban đầu khi một loại tiền kỹ thuật số mới được đưa ra mắt, khi đó có ít người đào và khả năng đào trúng cao hơn nên solo mining không phải chia sẻ vận may với người khác. Ngược lại khi đông người đào thì người ta tập hợp với nhau thành các pool vì tỷ lệ đào trúng rất thấp thậm chí hàng năm trời không đào trúng, nên việc tập hợp thành coin giảm bớt rủi ro và có được kinh phí để tiếp tục công việc đào. Thường dân đào coin chuyên nghiệp đi săn những loại coin mới khi nó mới ra mắt đào theo cách solo này.
Smart contract: Hợp đồng thông minh. Đây là một khái niệm mới về việc nhúng những đoạn mã có thể thực thi như các chương trình phần mềm, nó được nhúng vào trong các giao dịch để tuỳ tình huống mà giao dịch đó có thể thực thi theo các điều kiện khác nhau. Ví dụ hợp đồng thông minh có thể sử dụng cho trò số đề của một nhóm người theo kết quả thông báo của sổ số, mọi người cùng chuyển tiền và cùng sử dụng hợp đồng thông minh đến 7 giờ tối khi có kết quả sổ số thì người nào chọn đúng 2 số cuối trùng với giải đặc biệt sẽ nhận được toàn bộ số tiền. Đây là cách chơi số đề mà không cần nhà cái. Người trúng thay vì chỉ nhận 70% tổng tiền thì có thể nhận toàn bộ tiền của tất cả mọi người chơi.
Speculation: Sự đầu cơ
Speculator: Nhà đầu cơ, người thực hiện việc đầu cơ.
SPV: Là viết tắt của Simple Payment Verification có nghĩa là một kỹ thuật giúp các ví nhẹ (có thể chạy trên điện thoại di động) có thể kiểm tra các giao dịch mà không cần tải đầy đủ toàn bộ blockchain. Ví SPV chỉ cần tải phần đầu khối, nó nhỏ hơn rất nhiều so với toàn bộ các khối

Testnet: Có nghĩa là mạng thử nghiệm. Testnet là mạng các nút mạng chạy cùng một phần mềm mới mạng chính (mainnet) nhưng có thông số phân biệt giúp những người phát triển phần mềm, người kiểm tra,… thử nghiệm và kiểm tra lỗi trong quá trình phát triển ứng dụng mà không làm ảnh hưởng đến những giao dịch chính thức.
Transaction: Có nghĩa là giao dịch, nó tương đương với việc chuyển tiền từ một địa chỉ này đến một địa chỉ khác.
Tresor: Đây là tên một loại ví cứng (ví phần cứng).
Troll/Trolling: Là một bài đăng trên mạng có tính chất gây khó chịu, hoặc gây khiêu khích nhằm gây tức giận, thất vọng cho người khác.
Troller: Là người đăng những nội dung có tính chất khó chịu, hoặc gây khiêu khích nhằm làm người khác khó chịu, tức giận…
Trustless: Không cần sự tin cậy hay đặt niềm tin. Từ trustless ở đây không có nghĩa là không tin tưởng mà có nghĩa là không cần đặt niềm tin vào ai. Thường với nền kinh tế truyền thống việc chuyển tiền giữa người này sang người kia qua mạng thì phải thực hiện thông qua một đơn vị trung gian (có thể chỉ là máy móc) của một hoặc vài ngân hàng nào đó. Nhưng công nghệ tiền kỹ thuật số cho phép chúng ta giao dịch trực tiếp với nhau mà không cần phải đặt niềm tin vào bất cứ bên trung gian nào.
Turing completeness: Là một hệ thống hay ngôn ngữ lập trình có thể được sử dụng để thực hiện bất kỳ một phép tính hay một chương trình tính toán nào. Mặc dù Bitcoin cũng có khả năng có các đoạn mã trong giao dịch để thực thi những điều kiện nhưng script trong Bitcoin khá đơn giản, ngược lại Ethereum lại cho phép các đoạn mã trong giao dịch có được khả năng của một ngôn ngữ lập trình hoàn chỉnh tức là có thể lập trình cho nó để xử lý bất cứ vấn đề gì. Turing là tên của nhà toán học người Anh tên là Alan Turing người đặt nền móng cho ngành tin học.
Tx: Là viết tắt của từ Transaction. TxID là mã giao dịch.
Unbank: Khi nói về một người thì có nghĩa là người đó không sử dụng ngân hàng, mà thường sẽ dùng giao dịch bằng tiền mặt. Từ này cũng có nghĩa ám chỉ đến những người nghèo hoặc ở vùng sâu vùng xa nơi chưa có các dịch vụ ngân hàng.
Verify: Từ ngày có nghĩa là kiểm tra. Đối với các giao dịch thì verify có nghĩa là việc kiểm tra một giao dịch có hợp lệ hay không, verified có nghĩa là đã được kiểm tra. Đối với lĩnh vực mã hoá và chữ ký số thì verify là kiểm tra xem chữ ký số đó có phải là chữ ký hợp lệ trên một thông điệp hay không.
VirtualBox: Đây là tên một phần mềm giả lập máy ảo của công ty Oracle. Phần mềm này có thể được sử dụng miễn phí và rất hữu ích nếu bạn muốn thử nghiệm một coin mới mà không lo hacker có thể cài mã độc vào ví của coin mới nhằm đánh cắp các coin mà bạn đang có.
Volume: Có nghĩa là khối lượng giao dịch, thông thường người ta thường tính khối lượng giao dịch của một loại coin trong vòng 24 giờ. Ví dụ khi nói volume của Dash thì ý người ta nói đến giá trị của Dash được giao dịch trong vòng 24 giờ. Nó có thể được quy đổi ra đô la mỹ khi nói đến giao dịch trên các sàn mua bán coin hoặc chỉ là khối lượng lưu chuyển của coin giao dịch trong mạng lưới trong vòng 24 giờ khi nói đến lưu lượng giao dịch của một loại coin.
Wallet: Ví tiền kỹ thuật số.
X11: Tên thuật toán băm dùng trong tiền kỹ thuật số Dash. Thuật toán X11 là việc sử dụng 11 thuật toán băm kết nối với nhau, đầu ra của hàm băm với thuật toán này lại được làm đầu vào cho hàm băm của thuật toán kia. Đây là cách để tăng độ khó cho việc đào coin cũng như đảm bảo tính an toàn cho các giao dịch
DAPI: Là viết tắt của Decentralized Application Programing Interface, đây là một khái niệm được đưa ra bởi Evan Duffield người sáng lập ra Dash. DAPI có nghĩa là giao diện lập trình ứng dụng phi tập trung, tức là đây là một giao diện lập trình cho các ứng dụng để tương tác với hệ thống phi tập trung của Dash mà không cần phải tương tác với một máy chủ nào mà hệ thống Dash sẽ tự động truy xuất dữ liệu trên hệ thống nhằm cung cấp dữ liệu hoặc phương thức giao tiếp cho các chương trình bên ngoài hoặc xây dựng nhằm tận dụng công nghệ nền tảng của Dash.

DAO: Là viết tắt của Decentralized Autonomous Organization, có nghĩa là một hệ thống hoạt động tự động và phi tập trung. Sự tự động ở đây có nghĩa là không cần sự điều khiển hay ra lệnh mà tự suy luận và hành động. Một hệ thống tự động có thể xem như một tổ ong hay một tổ kiến khi mà mỗi thành viên của hệ thống tự biết nhiệm vụ của mình và thực hiện nhiệm vụ của mình mà không cần sự ra lệnh hay cho phép của các thành viên khác.
Fee: Nghĩa là phí, hay còn gọi là phí giao dịch là chi phí mà chúng ta phải trả cho mạng lưới cho mỗi giao dịch chuyển tiền.

Fork: Trong lĩnh vực phần mềm mã nguồn mở thì ai cũng có thể sử dụng mã nguồn mở của người khác cho các phần mềm của mình miễn sao cũng phải tiếp tục để cho phần mềm của mình ở dạng mã nguồn và người khác cũng có thể sử dụng tiếp được. Fork là cách sử dụng mã nguồn của một phần mềm trước đó sau đó thay đổi đi để tạo ra một chức năng khác. Ví dụ ban đầu phần mềm Bitcoin được lập ra nhưng sau đó Dash được tạo ra trên nền tảng ban đầu của phần mềm Bitcoin, tất nhiên Dash cũng thay đổi rất nhiều để tạo ra một biến thể khác. Đến lượt nó lại có nhiều phần mềm khác Fork ra từ Dash như PIVX, Bitsend,… Không có giới hạn về việc thay đổi nhiều hay ít, miễn sao dùng phần mềm mã nguồn mở của người khác sau đó thay đổi để thành riêng của mình thì quá trình đó gọi là fork.
Quorum: Số người bỏ phiếu tối thiểu để việc bầu cử có hiệu lực. Trong công nghệ phi tập trung (DAO) cần sự bỏ phiếu của các nhân tố tham gia (có thể là các agent là các phần mềm hoạt động trên các máy tính đơn lẻ) có thể tự động tham gia bỏ phiếu cho những điều kiện nhất định.
VPN: Là viết tắt của từ Virtual Private Network, có nghĩa là mạng riêng ảo. Mạng riêng là mạng chỉ dành riêng cho các máy tính nhất định ở một khu vực nhất định, nhưng nhờ có công nghệ mã hoá và việc kết nối Internet phổ biến thì chúng ta có thể thiết lập một mạng riêng ảo dựa trên việc mã hoá đường truyền để chỉ những máy tính có cài đặt khoá mới có thể truy cập mạng riêng này và chia sẻ dữ liệu được cho nhau dù chúng có thể cùng kết nối vào mạng toàn cầu nhưng những máy không có khoá thì không thể truy cập được mạng lưới đó do dữ liệu được mã hoá chỉ cho riêng các máy trong mạng lưới mới có thể đọc được.
VPS: Đây là từ viết tắt của Virtual Private Server, có nghĩa là máy chủ riêng ảo. Thay vì bạn phải thuê một máy chủ cho việc chạy một trang web hoặc chạy một masternode thì bạn có thể dùng dịch vụ máy chủ ảo này. Với dịch vụ máy chủ ảo, bạn chỉ cần trả chi phí cho nhu cầu của mình mà không bị lãng phí. Ví dụ ở thời điểm hiện tại bạn chỉ cần thuê một máy chủ ảo với chi phí khoảng 10 USD/tháng cho một masternode thay vì thuê máy chủ vật lý thì chi phí khoảng vài trăm USD/tháng.

Những Sai Lầm Hay Mắc Phải Của 1 Trader

1. Không xem trade coin là một nghề

Thật ra có rất nhiều người tham gia vào thị trường này với tâm lý đang tham gia một trò chơi từ đó không dành thời gian cho nó, nếu bạn không thực sự nghiêm túc thì đừng mong có một kết quả tốt đẹp, thất bại là việc sớm hay muộn mà bạn sẽ phải nhận lấy. Đây là một sai lầm trong trade coin lớn nhất mà hầu như trader nào cũng mắc phải !!!
Kết quả hình ảnh cho job
Phải xem tradecoin là một nghề như bao nghề khác và đầu tư nghiêm túc các giá trị vào nó thì mới mong nhận được kết quả tốt cho bản thân !

2. Trade Coin theo cảm tính

Bạn thích thì mua, thấy lỗ thì bán, bạn hoàn toàn không có kiến thức và phân tích kỹ thuật trong lệnh giao dịch nên việc thua lỗ sẽ là điều tất nhiên. Việc đầu tư Coin và giao dịch không đơn giản như bạn nghĩ, hãy thực tế chứ đừng đi theo cảm tính !!!
Kết quả hình ảnh cho angry
Cần tiết chế cảm xúc tối đa trong trade coin

3. Không có phương pháp chia lệnh Trade Coin hợp lý

Một trong những bài học khi trade coin mà bạn cần phải nhớ là chia các lệnh đầu tư hợp lý, nếu bạn đầu tư tất cả những gì mình có vào một giao dịch, thất bại là điều hiển nhiên, hãy học cách quản lý vốn và đầu tư trước khi bước vào thị trường này
Kết quả hình ảnh cho capital Management
Sai lầm trade coin là dồn hết vốn vào một lệnh giao dịch

5. Không quan tâm đến tin tức về các đồng coin

Sai lầm khi trade coin tiếp theo là xem thường tin tức, trong thị trường này tin tức sẽ ảnh hưởng rất lớn đến giá trị của một coin, hãy tìm hiểu kỹ về nó trước khi đầu tư hoặc lướt sóng.
Kết quả hình ảnh cho bitcoin magazine
Đầu tư coin chưa bao giờ dễ dàng, hãy dành thời gian quan tâm đến tin tức thị trường

6. Tham lam không đúng chỗ

Bạn không đặt ra giới hạn chốt lãi, tất cả đều có đỉnh của nó, sau khi đạt đỉnh các coin sẽ phải quay đầu trở lại, không có coin nào sẽ phát triển mãi mãi, hãy chốt lãi đúng lúc, kẻo “tham thì thâm” !!!
Kết quả hình ảnh cho greed
Kinh nghiệm trade coin là biết dừng đúng lúc, không quá tham lam

7. Đặt lệnh theo thông tin “nhảm”

Ngày nay tin nhảm hoặc thông tin vớ vẩn nhan nhản khắp nơi, nếu bạn không tìm hiểu sẽ bị “dắt mũi”, các bạn phải tìm hiểu thông tin thật kỹ trước khi đầu tư hoặc lướt sóng.
Kết quả hình ảnh cho spam news
Các trader rất dễ mất tiền trước các tin “nhảm”, hãy cẩn thận xem xét !

8. Phân tích kỹ thuật nhưng không để ý tin tức Coin

Đây là kinh nghiệm trade coin rất đắt giá, trái ngược với điều trên, bạn quá tin vào phân tích kỹ thuật, hãy nhớ phân tích kỹ thuật đi kèm với thông tin chính xác mới giúp các bạn thành công ở thị trường này.
Kết quả hình ảnh cho analysis bitcoin
Phải tập cách kết hợp giữa phân tích kỹ thuật và tin tức để đạt được giá trị tối đa khi trade coin

9. Tâm Lý Sợ hãi

Bạn không đánh giá đúng giá trị của coin mình đầu tư, từ đó khi nhận thấy dấu hiệu giảm giá (dù đây chỉ là mức giảm tạm thời để lấy đà để tiến đến đỉnh cao) bạn vội vàng đặt lệnh bán khi chưa thật sự đạt đến giá trị của nó !
Kết quả hình ảnh cho fear
Sợ hãi là điều khiến các trader quyết định sai lầm làm mất đi lợi nhuận đáng phải có

10. Không biết quản lý vốn khi đầu tư Coin

Bạn không biết quản lý vốn, đâu là vốn cho ngắn hạn, trung hạn và dài hạn, việc kiếm tiền từ trade coin chưa bao giờ là dễ nhưng bạn nên biết một điều rằng “giữ tiền còn khó hơn kiếm tiền”, hãy học cách quản lý nó hợp lý !!!
Kết quả hình ảnh cho money management
Phân bổ vốn khi trade coin là điều cần thiết

11. Hấp tấp, vội vàng

Đây là điều sẽ chết bạn, nó sẽ ảnh hưởng rất lớn đến việc phân tích và đặt lệnh, đây là cuộc chiến tâm lý, người nào không vững vàng tâm lý người đó sẽ bị đào thải
Kết quả hình ảnh cho failure
Kết cục phần lớn của sự hấp tấp trong trade coin !

12. Không biết nghỉ ngơi

Bạn không biết điểm dừng, cụ thể là sau khi kết thúc 1 lệnh có thể thắng hoặc thua bạn sẽ tiếp tục tìm các coin khác để đầu tư hoặc lướt sóng, đây là điều tối kỵ, hãy nghỉ ngơi hoặc thư giãn đủ để tâm lý bình tĩnh trở lại rồi mới vào lệnh, hãy chú ý cảm xúc.
Kết quả hình ảnh cho relax
Các trader hãy dành cho mình thời gian nghỉ ngơi hợp lý !

11. Xem quá nhiều biểu đồ giao dịch Coin

Đây có vẻ là nghịch lý nhưng thật ra đúng là như vậy, đối với các bạn đã xác định được xu hướng đầu tư của mình là trung hoặc dài hạn thì hãy hạn chế xem phân tích kỹ thuật hoặc biểu đồ giá trị của nó, mỗi ngày nên lướt qua 1-2 lần, việc xem quá nhiều sẽ dẫn đến tâm lý không vững vàng trước các biến động liên tục của biểu đồ.
Kết quả hình ảnh cho watch laptop
Việc thường xuyên xem biểu đồ giao dịch sẽ khiến bạn mệt mỏi không cần thiết khi đã đặt ra mục tiêu dài hạn

14. Lì lợm không chịu chốt lỗ

Thật ra không ai muốn làm công việc này nhưng đó là việc phải làm khi giá trị của coin bạn đầu tư đã sụt giảm quá giá trị bạn đặt ra, đối với các bạn lướt sóng giao dịch, hãy đặt ngay lệnh chốt lỗ ở giới hạn cho phép để lấy lại vốn đầu tư vào các kèo khác ngon hơn, không nên lì lợm, có ngày bạn sẽ phải trả giá bằng tất cả tài sản của mình.

15. Giao dịch Coin như “lợn”

Bạn đã biết đến các con thú trong thị trường này, nếu chưa hãy tham khảo các thông tin sau đây để biết mình đang ở vai nào nhé:
  • Con bò: Chỉ xu hướng của thị trường đang tăng lên
  • Con gấu: Chỉ xu hướng của thị trường bị “vùi dập”
  • Con gà: Là những người đang chăm chỉ “gặt thóc” từ 02 yếu tố trên, họ cần mẫn đi theo các đợt sóng giao dịch để kiếm tiền, họ quan sát thị trường, đi theo thị trường đang có xu hướng tăng để kiếm tí “thóc”, nếu thấy “gấu” chuẩn bị hành động họ sẽ ngưng lại hoặc chốt lãi, đây là những con gà thông minh, có thể sống lâu và mạnh khỏe tuy nhiên cũng có những con gà tham lam cứ mãi ăn, mãi đi theo cái bẫy của “gấu” dẫn dụ cho đến khi hóa thành kiếp “lợn”.
  • Con lợn: Là những người thê thảm nhất, bị “gấu” quật chết
Vậy tại sao lại dùng hình ảnh con lợn để nói về việc thua lỗ trong giao dịch, hãy xem xét lại những gì người ta thường ví với con lợn, đó là “tham lam”, “lười biếng”, “vô kỷ luật” và rốt cuộc thì nó sẽ bị làm thịt. Bạn quá tham lam, không biết điểm dừng, như tôi đã nói bạn không biết chốt lãi, không biết cắt lỗ, bạn hi vọng vào 1 cái gì to lớn hơn, bạn quá tham lam và bạn phải trả giá vì đây là thị trường biến động liên tục, nó sẽ không bao giờ như ý bạn mong muốn, hãy biết thiết lập kỷ luật, “ăn uống ngủ nghỉ” vừa phải, đừng như “lợn” ăn uống quá độ, ngủ nghỉ quá liều rồi cũng đến ngày sẽ bị người ta đem ra làm “thịt”.
Hãy giao dịch có kỷ luật !!!
Kết quả hình ảnh cho pig flat
Hãy học hỏi kinh nghiệm, kiến thức trade coin liên tục, nếu không bạn sẽ là những chú lợn xấu số 🙁

16. Bỏ qua các cơ hội:

Rất nhiều bạn ở đây chỉ chăm chăm vào các cú pump thần thánh, bạn kì vọng và chờ đợi vào tin tức cũng như các phân tích kỹ thuật đến mức “cầu toàn”, điều này khiến bạn bỏ qua các cơ hội đang tồn tại xung quanh bạn, bạn muốn x2, x3 tài khoản là không sai nhưng hãy quan sát xung quanh để tìm kiếm thêm các cơ hội mới, có thể nó sẽ lợi nhuận ít hơn nhưng “năng nhặt chặt bị”, trong thời gian bạn chờ đợi 1 cú trade thần thánh thì các tài khoản xung quanh đã “ăn no” còn bạn vẫn đang “đói” với cái bụng rỗng và 1 nắm tiền cũ kỹ trong tài khoản
Kết quả hình ảnh cho four-leafed clover
Hãy biết nắm bắt từng cơ hội trong thị trường đầu tư tiền điện tử này !

17. Quá bảo thủ, thường xuyên tuyên bố các nhận định, phán đoán của bản thân đến mọi người về thị trường:

Đây là một trạng thái về tâm lý rất cơ bản của mỗi người, ví dụ, khi bạn tuyên bố với mọi người rằng, “Tôi tin thị trường sẽ tăng”. Bạn có khuynh hướng tìm kiếm các quan điểm ủng hộ cho ý kiến tăng mà lờ đi các ý kiến đối lập. Bạn không hề muốn xem xét các quan điểm đối lập vì bạn sợ rằng, bạn sẽ sai. Bạn không muốn sai vì điều đó có nghĩa, bạn sẽ bị “mất mặt” với mọi người. Thực ra, bạn đang tự rơi vào cái bẫy tâm lý do chính mình tạo ra. Bạn tự tạo ra định kiến và bám chặt cái tôi của mình vào định kiến đó, khiến cho tư duy của bạn khép kín. Nếu không đủ bản lĩnh, bạn sẽ có những hành động cực kỳ ngu xuẩn trong giao dịch khi mắc phải định kiến. Đó là kéo Stoploss để chịu đựng thua lỗ. Bạn ôm lệnh chịu đựng vì chấp nhận Stoploss có nghĩa là từ bỏ hy vọng, và đồng thời thừa nhận với mọi người rằng, bạn đã sai. Bạn rất sợ điều đó.
“Hãy im lặng và hành động”
Trên đây là tổng hợp các sai lầm trade coin từ thực tiễn của mình và các trader đã từng trải qua, hi vọng nó sẽ giúp ích cho bạn để thành công trong thị trường này, đơn giản “biết địch biết ta trăm trận trăm thắng”, phải biết bản thân mình đang sai lầm ở đâu, yếu điểm ở đâu, khắc phục nó rồi mới ra chiến trường mà chiến đấu được.

24 tháng 12, 2017

Free 650 Ucash ~ 8$, nhanh tay, số lượng có hạn

Chào các bạn, hôm nay mình sẽ hướng dẫn các bạn kiếm 8$ trong tích tắc Coin này có vẻ uy tín, vì domain của nó cũng rất khá u.cash

Giới thiệu với bạn xem site này đang free 500 Ucash, chỉ cần xác nhận email và SĐT Mọi người đăng ký theo link sau rồi vào email xác nhận, sau đó xác nhận số điện thoại là được 500 Ucash nhé UCASH
Ngoài ra, anh em hỗ trợ đăng ký dưới link của mình, mình sẽ ref back lại 150 Ucash -> Tổng cộng anh em có được 650 Ucash ~ 8$ Anh em không mất công gì cả mà lại được 8$, tội gì không làm
Anh em làm giúp trên link của mình nhé
Cám ơn anh em!
Anh em làm xong cho em ID ( là số trên cùng bên phải.
Ví dụ: Client-ID: UC-10915) và email anh em reg để mình ref back nhé
Ngoài ra, có link làm nhiệm vụ để kiếm thêm Ucash
Tranh thủ kiếm khi nó free đi các bạn.

10 tháng 6, 2017

Bài 3: Lý thuyết Dow là gì?

 Lý thuyết Dow là một lý thuyết rất cơ bản, tuy thế nó không đơn giản để một nhà đầu tư mới có thể hiểu hết được. Ở đây mình sẽ nói trên phương diện dễ hiểu và gần như đầy đủ về lý thuyết Dow.

Lý thuyết Dow là một lý thuyết cơ bản, những lý thuyết khác sau này cũng dựa trên nền tảng của lý thuyết này mà phát triển. Trường phái phân tích kỹ thuật cũng thừa kế và phát triển trên nền tảng của lý thuyết Dow, làm cho lý thuyết này thêm vững chắc, đơn giản hơn và dễ hiểu hơn và thực tế hơn bằng đồ thị.

Chúng ta bắt đầu đi vào lý thuyết Dow. Lý thuyết Dow đưa ra một số giả thuyết và sau đó phát triển từ nền tảng các giả thuyết này. Điều đầu tiên chúng ta cần làm là phải thừa nhận một số giả thuyết sau đây hoàn toàn đúng. Trên khía cạnh của Tuyethoaphanus, người viết bài này khuyên bạn đừng thắc mắc hãy thừa nhận những giả thuyết này là đúng. Nếu bạn có chút nghi ngờ bất cứ lúc nào thì xem như dừng lại tại đấy và đừng đọc thêm hay học sâu về trường phái Phân Tích Kỹ Thuật làm gì, vì trường phái này phát triển dựa trên những giả thuyết này mà thôi.

GIẢ THUYẾT:
1. Không ai có thể thao túng xu hướng chính của thị trường.
Một khi xu hướng chính đã được thiết lập thì chẳng ai có thể thay đổi được xu hướng này cho đến khi thị trường tự chuyển xu hướng chính của nó theo hướng ngược lại.
Giả sử như xu hướng tăng của thị trường đã được xác lập là sẽ tăng liên tục. Những ai thao túng giá cả thì chỉ có thể làm giá giảm trong một thời gian ngắn rồi nó lại tiếp tục đi trở lại xu hướng chính của thị trường là xu hướng tăng. Việc bẻ gãy xu hướng chính là điều thật khó khăn và có lẽ chẳng ai muốn làm điều đó để gánh lấy thiệt hại. Những kẻ thao túng giá chỉ thao túng giá trong thời gian ngắn để đạt được mục đích rồi thị trường lại quay về bản chất vỗn dĩ của nó.
Thị trường cứ đi theo xu hướng chính cho đến khi nó rã rời mỏi mệt với cái xu hướng đó tự nó sẽ đổi chiều để đi theo xu hướng khác. Tôi có thể bảo vệ tiếp tục giả thuyết 1 này nhưng tôi không muốn làm rối các bạn mới bước vào tìm hiểu trường phái Phân Tích Kỹ Thuật nữa. Nên tôi và những người viết bài trên trang kieman.com mong các bạn cứ chấp nhận nó hoàn toàn đúng để chúng ta đi tiếp một cách đơn giản và dễ dàng nhất. Bởi vì nếu có một bàn tay thao túng được thì chúng ta đi phân tích nọ kia và dự đoán để làm gì nữa. Hãy hỏi kẻ thao túng đó để có kết quả dự đoán chuẩn xác nhất.
2. Mọi thứ đều được phản ánh vào giá cả
Thị trường phản ánh được mọi thông tin. Mọi thứ đều phản ánh vào thị trường thông qua giá cả. Giá cả là con số chung phản ánh được sự kỳ vọng, sự sợ hãi và mong chờ của tất cả những đối tượng tham gia thị trường. Tất cả mọi thứ sẽ phản ánh lên giá cả. Thay đổi lãi suất, tăng trưởng hay sụt giảm doanh thu lợi nhuận, bầu cử tổng thống... có thể thay đổi được giá cả và ảnh hưởng được lên giá cả nhưng chỉ trong thời gian ngắn. Còn xu hướng chính của giá cả vẫn chẳng thể bị ảnh hưởng. Ví dụ: xu hướng chính là tăng, nếu có thông tin xấu đột ngột xuất hiện thì giá cả sẽ giảm để phản ứng thông tin xấu đó, sau đó thị trường lại trở về với xu hướng chính là tăng và sẽ vượt lên khỏi giá mà khi thông tin xấu đó xuất hiện.
Có khi thông tin tốt lại không thể làm giá cổ phiếu tăng được bởi vì giá đã tăng trước rồi. Ví dụ: cổ phiếu A tăng giá từ 10,000 lên 20,000 sau đó thông tin tốt xuất hiện, giá cổ phiếu cũng không thể tăng thêm được nữa vì thật tế thông tin tốt đó đã phản ảnh lên giá trước đó làm giá tăng từ 10,000 lên 20,000. Và nếu tăng hơn 20,000 thì tăng quá mức mà thông tin tốt đó có thể phản ánh được. Như vậy, đôi khi thị trường lại phản ứng trước khi thông tin xuất hiện nên khi thông tin xuất hiện cũng không thay đổi được gì.
Cũng tương tự như thế khi xu hướng chính đã trở nên mệt mỏi và muốn đổi xu hướng chính theo hướng ngược lại (như đổi tăng thành giảm, giảm thành tăng) thì dù có thêm bao nhiêu thông tin tốt đi chăng nữa, xu hướng chính tăng vẫn mệt mỏi và chuẩn bị bước vào xu hướng chính giảm. Hoặc dù có thêm bao nhiêu thông tin xấu đi chăng nữa, xu hướng chính giảm cũng đã giảm quá nhiều và chuẩn bị bước vào xu hướng chính tăng.
3. Lý thuyết Dow không phải công cụ hoàn hảo
Lý thuyết Dow đưa ra những nguyên lí và bản chất của thị trường và giúp bạn loại bỏ được những tâm lí cá nhân khi tham gia thị trường để có những nhận định đúng về thị trường. Tuy nhiên, khi dựa vào lý thuyết Dow bạn phải phân tích theo tiêu chí khách quan, đừng dựa trên những mong muốn của chính mình mà phân tích thì sẽ làm phân tích của bạn lệch lạc. Lúc đấy phân tích của bạn bị lệch lạc, chứ không phải là lý thuyết Dow đã đưa ra những điều không đúng. Chính vì thế mới nói lý thuyết Dow không hoàn hảo. Cũng là dựa trên lý thuyết Dow nhưng những phân tích của những người khác nhau lại có thể khác nhau.
Lý thuyết Dow chỉ giúp cho bạn có một cái nhìn ở xu hướng chính. Ở những xu hướng thứ cấp và ngắn hạn lý thuyết Dow không thể áp dụng. Vì trong xu hướng thứ cấp và xu hướng ngắn hạn giá cả thị trường có thể bị theo túng dễ dàng.
Để giải thích rõ hơn về mặt phân tích kỹ thuật ở giả thuyết 3 này Kiếm ăn  xin nói đơn giản dễ hiểu như sau, dựa vào lý thuyết Dow chúng ta có thể nhìn nhận được dễ dàng xu hướng chính, còn xu hướng dài hạn và xu hướng trung hạn thì khó có thể nhìn ra, và nếu là xu hướng ngắn hạn thì khả năng dựa vào lý thuyết Dow mà nhìn thì dễ dàng bị sai trầm trọng. Giả thuyết 3 đưa ra điểm yếu của lý thuyết Dow để các nhà phân tích kỹ thuật biết điểm yếu của nó mà xác nhận ra xác suất phân tích đúng của mình bao giờ cũng không thể là chính xác tuyệt đối 100%. Tuy nhiên do sự mở rộng của các công cụ và lý thuyết sóng Elliott sau này, đã hạn chế được phần nào điểm yếu của lý thuyết Dow này.

Chúng ta vừa mới điểm qua 3 giả thuyết của lý thuyết Dow.

XU HƯỚNG THỊ TRƯỜNG:

Dow and Hamilton đưa ra 3 xu hướng giá như sau: xu hướng chính, xu hướng thứ cấp và xu hướng ngắn hạn (có người gọi là xu hướng chính, xu hướng thứ cấp và xu hướng ngày). Xu hướng chính kéo dài vài tháng đến vài năm. Xu hướng trung hạn kéo dài vài tuần đến vài tháng. Xu hướng ngắn hạn kéo dài vài giờ cho đến vài ngày hoặc một hai tuần.
Kieman.com xin kèm thêm lý thuyêt sóng Elliott để giải thích rõ hơn về xu hướng thị trường như sau, xu hướng thị trường gồm các xu hướng sau: xu hướng chính, xu hướng thứ cấp (xu hướng dài hạn, trung hạn và ngắn hạn) và xu hướng ngày (tức là những xu hướng diễn ra trong vài giờ cho đến một hai tuần, loại xu hướng này chỉ có thể nhìn trên forex nên ở thị trường chứng khoán chúng ta tạm bỏ qua). Vậy xu hướng chính sẽ bao gồm 3 hoặc 5 xu hướng dài hạn, xu hướng dài hạn sẽ bao gồm 3 hoặc 5 xu hướng trung hạn và xu hướng trung hạn sẽ bao gồm 3 hoặc 5 xu hướng ngắn hạn.

Xu hướng chính:
Xu hướng chính là những xu hướng lớn của thị trường và có thể tồn tại qua nhiều tháng hoặc nhiều năm. Những xu hướng này có khi là xu hướng tăng (bullish) có khi là xu hướng giảm (bearish). Một xu hướng một khi được thiết lập nó sẽ kéo dài cho đến khi xu hướng ngược lại được xác lập. Tức là xu hướng tăng sẽ kéo dài cho đến khi xu hướng giảm xuất hiện. Thời gian của một xu hướng thì không có một nguyên tắc bắt buộc là phải bao lâu. Có khi rất ngắn và có khi rất dài. Nên chúng ta đừng quan trọng độ tăng giảm và độ kéo dài bao lâu của một xu hướng. Vì không có nhất định xu hướng tăng phải tối đa hay tối thiểu bao lâu hoặc bao xa.

Mặc dù mọi người có thể dự đoán tương đối nhưng chính xác thì chẳng ai biết được bao giờ và khoảng nào thì xu hướng chính kết thúc. Lý thuyết Dow cho người ta biết và xác định được xu hướng chính để từ đó có phương án đầu tư hiệu quả. Cố gắng dự đoán độ tăng, độ giảm hay thời gian kéo dài của một xu hướng chỉ ở mức tương đối và chắc chắn không thể nào chính xác được. Chỉ cần xác định được xu hướng chính và tận dụng được nó thì đã là một thành công lớn.

Xu hướng thứ cấp:
Xu hướng thứ cấp là những xu hướng nằm trong lòng xu hướng chính. Trong xu hướng chính tăng sẽ có những xu hướng thứ cấp tăng và giảm nằm trong lòng nó. Trong xu hướng chính giảm sẽ có những xu hướng thứ cấp tăng và giảm nằm trong lòng nó. Điều đó có nghĩa là sẽ có những xu hướng thứ cấp ngược hướng với xu hướng chính. Để hiểu thêm điều này, chúng ta nghiên cứu thêm lý thuyết sóng Elliot sẽ nắm rất rõ điều này. Sóng Elliot cũng phát triển dựa trên lý thuyết Dow và phát triển thêm. Xu hướng thứ cấp thì khó dự đoán hơn xu hướng chính.

3 GIAI ĐOẠN CỦA XU HƯỚNG TĂNG CHÍNH VÀ 3 GIAI ĐOẠN CỦA XU HƯỚNG GIẢM CHÍNH:
Giai đoạn 1 của xu hướng tăng chính (giai đoạn tích lũy): Giai đoạn đầu của xu hướng tăng thì khó có thể nhận ra đâu là đã bắt đầu xu hướng tăng chưa hay vẫn còn ở trong xu hướng giảm trước đó. Tâm lí tiêu cực bi quan của xu hướng giảm chính vẫn tiếp tục lan và thống trị luôn ở giai đoạn bắt đầu xu hướng tăng. Đây là giai đoạn thị trường giao dịch ít ỏi, tin tức thì xấu và giá trị của cổ phiếu thường thấp kỷ lục. Tuy nhiên, giai đoạn này dòng tiền thông minh bắt đầu tích lũy cổ phiếu. Những người kiên nhẫn chấp nhận mua vào đầu tư dài hạn. Cổ phiếu thì rẻ, nhưng chẳng ai muốn sở hữu chúng. Mùa hè năm 1974 Warren Buffet từng nói đây là giai đoạn những ai mua cổ phiếu sẽ trở nên giàu có. Đa số đã nghĩ ông điên nên mới mua lúc này.

Trong giai đoạn đầu của xu hướng tăng chính, cổ phiếu bắt đầu tìm thấy được đáy và âm thầm xác nhận đáy. Khi thị trường bắt đầu tăng, có nhiều nghi ngờ và chưa tin là thị trường đã và đang khởi động tăng. Sau khi có một đợt sóng tăng và bắt đầu giảm lại, những kẻ nghi ngờ xuất hiện và cho rằng xu hướng giảm vẫn chưa kết thúc đâu. Ngay lúc này đây sẽ có những nhà phân tích từ tốn đưa ra nhận định bước sóng giảm này chỉ là xu hướng giảm thứ cấp 2, và xu hướng tăng vừa qua là xu hướng tăng thứ cấp 1 và cho biết thị trường đã khởi động tăng xu hướng chính và cụ thể được xong 1 bước sóng tăng thứ cấp và đây là bước sóng giảm 2 thứ cấp. Nếu đây là sóng giảm 2 thứ cấp thì đáy sóng giảm 2 sẽ cao hơn đáy trước đó. Thị trường âm thầm tạo đáy sóng giảm 2 cao hơn đáy trước, và đợt sóng tăng thứ cấp 3 lại bắt đầu và sau đó vượt lên khỏi đỉnh sóng tăng thứ cấp 1, mọi người bắt đầu nhận ra đợt sóng tăng 3 này và xu hướng tăng thứ cấp bắt đầu được mọi người nhìn thấy rõ nét. Điều này cho thấy đến khi mọi người đều thừa nhận xu hướng (giảm) trước kết thúc thì thị trường đã đi xong 2 sóng thứ cấp (tăng) 1 và (giảm) 2 và đang đi được nửa đường xu hướng thứ cấp (tăng) 3. Do vậy khi mọi người nhận ra được xu hướng chính mới bắt đầu thì thị trường đã đi một quảng khá xa.
Giai đoạn 2 của xu hướng tăng chính (giai đoạn tăng mạnh): Giai đoạn 2 của giai đoạn xu hướng tăng chính thường là dài nhất, và giá tăng nhiều nhất. Giai đoạn này được đánh dấu bằng cải thiện trong các doanh nghiệp, giá chứng khoán tăng. Lợi nhuận tăng và niềm tin tràn đầy. Giai đoạn này xem như là giai đoạn dễ kiếm tiền và những người kinh doanh theo xu hướng cũng gia nhập thị trường.
Giai đoạn 3 của xu hướng tăng chính (giai đoạn tăng thái quá): Giai đoạn 3 của xu hướng tăng chính được đánh giá bằng việc tích lũy thái quá và xuất hiện áp lực lạm phát. Trong suốt giai đoạn 3 này, cả cộng đồng dường như đã tham gia cả vào thị trường, giá cả đã tăng quá mức và niềm tin vào thị trường nhiều đến mức kinh ngạc. Khi mà ngay cả bà hàng tôm hàng cá, anh nông dân cũng tư vấn nhau nghe về chứng khoán thì đỉnh xu hướng chính đã sắp sửa có rồi đấy.
Giai đoạn 1 của xu hướng giảm giá chính (giai đoạn phân phối): Giống như giai đoạn một của xu hướng tăng giá, giai đoạn một của xu hướng giảm giá thì đi ngược lại. Đây là giai đoạn phân phối. Dấu hiệu phân phối đánh dấu cho bắt đầu xu hướng giảm. Khi này, dòng tiền thông minh bắt đầu nhận ra rằng điều kiện mua bán kinh doanh bây giờ không còn dễ và thoải mái như mọi người đã nghĩ, và những dòng tiền thông minh này bắt đầu bán cổ phiếu và rút tiền ra khỏi thị trường dần. Cộng đồng và mọi người vẫn còn tham gia vào thị trường trong giai đoạn này và vẫn hồ hỡi mua vào. Ít có tin tức nào cho biết thị trường sắp sửa bước vào xu hướng giảm thật sự và điều kiện kinh doanh chung dĩ nhiên vẫn cảm thấy tốt. Tuy nhiên, giá cổ phiếu bắt đầu giảm một tí và sự giảm giá bắt đầu chính thức diễn ra.

Trong khi thị trường giảm giá, người ta vẫn chưa tin rằng xu hướng giảm giá đã bắt đầu và mọi người vẫn cho là xu hướng tăng giá chính vẫn còn. Sau khi giảm kha khá, thì có sự tăng hồi trở lại. Sự tăng hồi này nhanh và mạnh. Thật ra đây chỉ là sóng tăng thứ cấp nằm trong lòng xu hướng giảm chính. Thế mà mọi người vẫn nghĩ là xu hướng chính vẫn còn và sẽ tăng ngày mạnh mẽ hơn. Tuy nhiên sự tăng hồi lại này vẫn không vượt qua được đỉnh cao cũ. Đỉnh hồi lần này thấp hơn và bắt đầu quay ngược lại giảm tiếp và giảm sâu hơn lần giảm trước. Lúc này mọi người mới nhận ra xu hướng giảm nhưng xu hướng giảm thật sự đã đạt đỉnh và bắt đầu giảm trước đó.
Giai đoạn 2 của xu hướng giảm giá chính (giai đoạn giảm mạnh): Giống giai đoạn 2 của xu hướng tăng giá chính, xu hướng này thì ngược lại. Giai đoạn này giá sẽ giảm mạnh và điều kiện kinh doanh cũng giảm. Lợi nhuận giảm, doanh thu giảm. Do doanh nghiệp làm ăn khó khăn hơn, cắt lổ bắt đầu xảy ra.
Giai đoạn 3 của xu hướng giảm giá chính (giai đoạn đau khổ): ở giai đoạn 3 này, tất cả mọi hy vọng đã tiêu tan và chứng khoán đã giảm rất nhiều. Giá trị bây giờ rất thấp, nhưng mọi người vẫn tiếp tục bán ra và mọi người vẫn tìm đường để bán ra và thoát khỏi thị trường cho bằng được. Tin tức thì luôn luôn xấu, nền kinh tế thì ảm đạm và chẳng tìm ra người mua. Thị trường vẫn tiếp tục giảm cho đến khi những tin xấu đã được đưa hết vào giá. Một khi cổ phiếu đã phản ảnh hết cái xấu thì giai đoạn này xem như kết thúc và chuẩn bị chờ đón xu hướng tăng chính.

CÁCH XÁC ĐỊNH XU HƯỚNG CHÍNH:
Bước đầu tiên trong việc xác định xu hướng chính là xác định các xu hướng của từng chỉ số riêng rẻ. Điều này có nghĩa là chúng ta đi xác định xu hướng chính của các chỉ số như VNindex, HNXindex, thậm chí Dow Jones, Nikkei,.... Nếu tất cả các chỉ số riêng rẻ này đều nói lên cùng một hướng xu hướng chính giống nhau thì xu hướng chính đúng là như thế. Nếu tất cả đều cho thấy xu hướng chính đổi chiều, thì xu hướng chính thật sự đã đổi chiều. Chúng ta dùng đỉnh và đáy để phân tích tìm ra xu hướng chính cho từng chỉ số riêng rẻ. Nếu chỉ 1 xu hướng chính XYZ báo đảo chiều thì có thể xu hướng chính trước vẫn còn giữ vững và XYZ sẽ sớm quay trở lại xu hướng chính. Hoặc xu hướng XYZ báo đảo chiều sớm và đợi các xu hướng của các chỉ số khác cũng khẳng định đảo chiều thì lúc này mới thật sự đảo chiều xu hướng trên tất cả các chỉ số thị trường. Xu hướng chính tăng thì các đỉnh và đáy sau cao hơn đỉnh và đáy trước. Xu hướng chính giảm thì các đỉnh và đáy sau thấp hơn đỉnh và đáy trước.
Một khi xu hướng đã được xác định, nó sẽ giữ vững cho đến khi xu hướng ngược lại được xác định. Một xu hướng chính giảm vẫn được giữ vững là xu hướng chính giảm cho đến khi xu hướng chính tăng được xác lập. Cách xác định xu hướng chính tăng giảm mời các bạn xem hình bên dưới.


CÁC CHỈ SỐ THỊ TRƯỜNG PHẢI ĐỒNG ĐIỆU:
Các chỉ số thị trường phải đồng điệu với nhau thì mới xác nhận được xu hướng. Ví dụ như VNIndex xác nhận xu hướng chính chuyển từ giảm sang tăng. Nhưng xu hướng chính HNXIndex vẫn chưa chuyển từ giảm sang tăng thì xem như xu hướng chính của VNIndex vẫn ở xu hướng chính là giảm. Dựa vào sự đồng điệu, chúng ta biết được đâu là xu hướng chính đã được đổi hay vẫn còn ở xu hướng cũ.

Kieman.com xin chỉ ra ví dụ rất cụ thể. Theo lý thuyết Dow thì sẽ thấy VNIndex và HNX luôn đồng điệu, cùng lên, cùng giảm, cùng kết thúc sóng, cùng bắt đầu sóng mới ở các con sóng chính. Đôi khi cũng có sự lệch về thời gian bắt đầu và kết thúc sóng ở những con sóng thứ cấp như sóng dài hạn, trung hạn và ngắn hạn. Thường VNIndex sẽ đi sớm hơn HNX-Index một tí. Nếu cả hai cùng đồng điệu, thì có thể khẳng định việc bắt đầu và kết thúc xu hướng. Mở rộng ra thì VNindex và HNX-Index phải cùng xu hướng chính với các chỉ số trung bình của các thị trường khác trên thế giới. Cùng xu hướng chính, và ở các xu hướng thứ cấp như ở các bước sóng dài hạn, trung hạn và ngắn hạn có thể có chút lệch pha trong một mức độ nào đó. Chính vì thế việc phân tích các sóng của các thị trường khác trên thế giới cũng như việc so giữa VNindex, HNX-index cũng như VN30 sẽ đưa ta một cái nhìn tổng quát để từ đó đi đến phân tích chi tiết dễ dàng hơn.

KHỐI LƯỢNG:
Ở xu hướng chính tăng: Khối lượng sẽ tăng khi giá tăng theo xu hướng chính. Trong thị trường tăng, khối lượng giao dịch sẽ ngày một nhiều hơn, và sẽ bị giảm lại vào giai đoạn điều chỉnh. Trong giai đoạn điều chỉnh của xu hướng chính tăng thì khối lượng sẽ giảm và người tham gia thị trường cũng giảm. Trong giai đoạn điều chỉnh thì thị trường cũng mờ mịt và ảm đạm.

Ở xu hướng chính giảm: Mỗi khi thị trường hồi lại thì khối lượng thường giảm. Khi thị trường lại tiếp tục giảm thì khối lượng tăng trở lại. Khi thị trường hồi lại thì người tham gia thị trường cũng ít lại.
Bằng việc nhìn khối lượng, chúng ta có thể đoán biết được xu hướng chính.

Mình đưa ra một ví dụ về trường hợp khối lượng, ở đây không phải là xu hướng chính giảm mà chỉ là xu hướng trung hạn giảm nhưng vấn đề khối lượng cũng nói lên được ở đây. Khi thị trường giảm khối lượng lại tăng, khi thị trường tăng khối lượng lại giảm, điều này báo hiệu nguy cơ đảo chiều sang giảm hoặc đang trong xu hướng giảm. 

ĐƯỜNG PHẠM VI MUA BÁN:

Có những đường ngang hình thành nên phạm vi mua bán. Trong phạm vi mua bán này cho thấy các chỉ số đi sideways (đi ngang) trong một khoảng thời gian nhất định. Và khi đấy chúng ta có thể vẽ ra được những đường ngang đó bằng cách nối các đỉnh và các đáy. Những phạm vi mua bán như thế không cho biết rõ ràng là tích lũy hay phân phối, nhưng đến khi giá thật sự vượt lên hoặc vượt xuống khỏi phạm vi mua bán. Nếu vượt lên, thì phạm vi mua bán đó là tích lũy. Nếu vượt xuống thì phạm vi mua bán đó là phân phối. Trong vùng phạm vi mua bán thì không thể nhận định được tích cực hay tiêu cực cho đến khi phá vỡ để vượt khỏi phạm vi mua bán đó.

Tóm lại, những điểm đưa ra ở trên là những giả thuyết và những cơ sở lý thuyết của lý thuyết Dow.

Bài 2: Phân tích kỹ thuật là gì?

Phân tích kỹ thuật (Technical analysis hay còn gọi là TA) là một từ chuyên môn trong lĩnh vực chứng khoán để chỉ việc nghiên cứu giá cả trong quá khứ thông qua các đồ thị để dự đoán được giá cổ phiếu trong tương lai. Những người phân tích kỹ thuật (chartists) dựa vào những lý thuyết được nghiên cứu đưa ra trước đó để dựa vào đó đọc được đồ thị và nhìn ra được giá cổ phiếu trong tương lai. Phân tích kỹ thuật là dùng đồ thị để đoán được giá cả của cổ phiếu, giá cả của hàng hóa, thậm chí chỉ số của thị trường (market indexes).

Dưới đây là một ví dụ phân tích kỹ thuật dựa vào đồ thị và một số công cụ vẽ vào đồ thị để nhìn ra thị trường chứng khoán ở Việt Nam sắp tới sẽ tăng hay giảm.


(Nhấp vào hình để xem rõ hơn)
Dưới đây là ví dụ phân tích cổ phiếu MBB (cổ phiếu ngân hàng cổ phần quân đội)




Phân tích kỹ thuật thì không mất nhiều thời gian để nhìn vào đồ thị. Phân tích kỹ thuật mất rất ít thời gian là có thể phân tích xong và có thể dự đoán được giá cổ phiếu hoặc chỉ số thị trường ở tương lai. Phân tích kỹ thuật thì không cần một bằng cấp gì cao siêu để trở thành một chuyên gia. Nếu bạn có thể đọc được đồ thị thì bạn đã là một chuyên gia phân tích kỹ thuật. Nếu bạn chưa là một chuyên gia phân tích kỹ thuật, bạn có thể theo chân trang kieman.com để học hỏi phân tích kỹ thuật và trở thành một chuyên gia.

Phân tích kỹ thuật dự đoán sự di chuyển giá cả ở thị trường tài chính thông qua sự lên xuống của giá cả ở quá khứ. Giống như dự báo thời tiết, phân tích kỹ thuật cũng không thể nào dự báo hoàn toàn chính xác được tương lai. Tuy nhiên, phân tích kỹ thuật có thể giúp các nhà đầu tư đoán được giá cả lên xuống trong tương lai.

Nền tảng của phân tích kỹ thuật là lý thuyết Dow. Đây là lý thuyết cơ bản nhất. Những lý thuyết và những công cụ phân tích kỹ thuật cũng dựa vào lý thuyết này mà phát triển ngày một sâu rộng hơn. Để học phân tích kỹ thuật, đầu tiên chúng ta tham khảo qua lý thuyết Dow trước rồi từ đó làm tiền đề nghiên cứu các lý thuyết khác.